Thiền sư Dương Không Lộ ( 1016-1094 )là một trong những thiền sư rất nổi tiếng thời Lý . Ngài quê ở xứ Hải Thanh , hạ lưu sông Hồng ( Vùng Nam Định , Thái Bình ) quê mẹ ở Hán Lý ( Hải Dương )
Năm 29 tuổi ngài bỏ nghề chái lưới và xuất gia tu học , lúc đầu theo thầy Noãn cư sĩ , sau theo thiền phái Vô Ngôn Thông .Một thời gian ngài học thiền phái Thảo Đường . Cùng đồng đạo ngài kết thân với Giác Hải chùa Diên Phúc ( sau là chùa Viên Quang ) chuyên tâm học Phật , làm thuốc cứu người .
Năm 1061 ngài xây chùa Nghiêm Quang ( sau đổi là Chùa Thần Quang ) bên hữu ngạn sông Hồng .
Năm 1062 Không Lộ cùng Giác Hải và Đạo Hạnh viễn du sang Tây Trúc học Phật và được truyền tâm ấn .
Năm 1072 thiền sư có công chữa khỏi bệnh cho vua Lý Nhân Tông, được vua phong là “ Lý Thế Quốc Sư “ – 李 世 國 師 .
Ngày 3-6 năm Giáp Tuất 1094 Thiền sư Không Lộ viên tịch . Năm 1095 Thiền sư Giác Hải xây tháp và nhập xá lợi cho ngài . Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tu sửa chùa cùng ban ruộng hậu để chúng sinh hương khói phụng thờ .
Năm 1611 chùa Thần Quang xưa làng Dũng Nhuệ bị phá huỷ sau một nạn hồng thuỷ rất lớn .
Nhờ ân đức của vợ chồng Quận công Hoàng Nhân Dũng và triều đình nhà Lê , sau 19 năm chuẩn bị tịnh tài , năm 1630 ngôi chùa Thần Quang được xây dựng lại chuyển sang tả ngạn sông Hồng . Vị trí được chọn thế đất rất đẹp có sông Hồng uốn lượn bao quanh 3 mặt , phía trước là trục thần đạo nhìn về ngã ba sông Ninh Cơ – Sông Hồng . Đó chính là Thần Quang tự ( 神 光 寺 ) – Chùa Keo xã Vũ Tiên ngày nay .
Lúc sinh thời , thiền sư Không Lộ ngoài chăm câu kinh kệ còn chuyên tâm y thuật và đàm đạo văn chương . Hiện nay di văn Hán Nôm vẫn còn lưu lại nhiều bài thơ rất nối tiếng của ngài . Như bài “ Ngư Nhàn “ đã được đưa vào vào tổng tập “ Văn Thơ Lý Trần “ các nhà thơ và nhà nghiên cứu trong ngoài nước đáng giá rất cao những trước tác mà thiền sư để lại .
Có một bài thơ rất độc đáo được Không Lộ viết thể thuận nghịch ( đọc xuôi đọc ngược ) đây là thể viết rất khó cần sử dụng nghệ thuật từ ngữ uyển chuyển nhưng vẫn phải đúng niêm luật . Bài thơ này được Tiến sỹ Đặng Xuân Bảng ( 1828-1910 ) người làng Hành Thiện dịch sang tiếng Việt từ nguyên văn chữ Hán .
天 連 碧 𣗳 𣗳 連 天
煙 銷 青 山 山 鎖 煙
𣗳 繞 松 蘿 蘿 繞 𣗳
川通 巫 峽 峽 通 川
酒 迷 醉 客 客 迷 酒
船 送 行 人 人送 船
會 得 知 音 音 得 會
傳 今 到 古 古 今 傳。
Thiên liên bích thụ , thụ liên thiên
Yên toả thanh sơn , sơn toả yên
Thụ nhiễu tùng la , la nhiễu thụ
Xuyên thông vu giáp , giáp thông xuyên
Tửu mê tuý khách , khách mê tửu
Thuyền tống hành nhân , nhân tống thuyền
Hội đắc tri âm , âm đắc hội
Truyền kim đáo cổ , cổ kim truyền .
Dịch thơ :
Da trời dòng biếc nhuôm màu cây
Một giải non xanh toả khói mây
Cây quấn cây tùng , cây rậm rạp
Nước quanh đỉnh giáp , nước vơi đầy
Rượu mê người , người mê rượu đấy
Khách giục thuyền , thuyền giục khách đây
Liệu được tri âm , nào được mấy
Xưa nay vẫn nhớ mãi xưa nay .
Tương truyền bài thơ này được Thiền sư Không Lộ viết khi gặp Giác Hải . Hai người bạn đồng tu như có duyên từ trước hội ngộ lần đầu mà như tri âm như biết trước từ xa xưa .
Nguồn ảnh : EFEO , Nguyễn Phú Đức , Nguyễn Thuyên , Trần Trung Hiếu .
Nguồn bài: Nguyễn Thuyên / Ban Thông tin truyền thông Tổ Đình Chùa Keo Thái Bình














