Thứ Tư, Tháng 7 22, 2026
HomeNhân vật lịch sửMỘT BÀI THƠ RẤT ĐỘC ĐÁO CỦA THIỀN SƯ KHÔNG LỘ

MỘT BÀI THƠ RẤT ĐỘC ĐÁO CỦA THIỀN SƯ KHÔNG LỘ

Thiền sư Dương Không Lộ ( 1016-1094 )là một trong những thiền sư rất nổi tiếng thời Lý . Ngài quê ở xứ Hải Thanh , hạ lưu sông Hồng ( Vùng Nam Định , Thái Bình ) quê mẹ ở Hán Lý ( Hải Dương )

Năm 29 tuổi ngài bỏ nghề chái lưới và xuất gia tu học , lúc đầu theo thầy Noãn cư sĩ , sau theo thiền phái Vô Ngôn Thông .Một thời gian ngài học thiền phái Thảo Đường . Cùng đồng đạo ngài kết thân với Giác Hải chùa Diên Phúc ( sau là chùa Viên Quang ) chuyên tâm học Phật , làm thuốc cứu người .

Năm 1061 ngài xây chùa Nghiêm Quang ( sau đổi là Chùa Thần Quang ) bên hữu ngạn sông Hồng .

Năm 1062 Không Lộ cùng Giác Hải và Đạo Hạnh viễn du sang Tây Trúc học Phật và được truyền tâm ấn .

Năm 1072 thiền sư có công chữa khỏi bệnh cho vua Lý Nhân Tông, được vua phong là “ Lý Thế Quốc Sư “ – 李 世 國 師 .

Ngày 3-6 năm Giáp Tuất 1094 Thiền sư Không Lộ viên tịch . Năm 1095 Thiền sư Giác Hải xây tháp và nhập xá lợi cho ngài . Vua Lý Nhân Tông xuống chiếu tu sửa chùa cùng ban ruộng hậu để chúng sinh hương khói phụng thờ .

Năm 1611 chùa Thần Quang xưa làng Dũng Nhuệ bị phá huỷ sau một nạn hồng thuỷ rất lớn .

Nhờ ân đức của vợ chồng Quận công Hoàng Nhân Dũng và triều đình nhà Lê , sau 19 năm chuẩn bị tịnh tài , năm 1630 ngôi chùa Thần Quang được xây dựng lại chuyển sang tả ngạn sông Hồng . Vị trí được chọn thế đất rất đẹp có sông Hồng uốn lượn bao quanh 3 mặt , phía trước là trục thần đạo nhìn về ngã ba sông Ninh Cơ – Sông Hồng . Đó chính là Thần Quang tự ( 神 光 寺 ) – Chùa Keo xã Vũ Tiên ngày nay .

Lúc sinh thời , thiền sư Không Lộ ngoài chăm câu kinh kệ còn chuyên tâm y thuật và đàm đạo văn chương . Hiện nay di văn Hán Nôm vẫn còn lưu lại nhiều bài thơ rất nối tiếng của ngài . Như bài “ Ngư Nhàn “ đã được đưa vào vào tổng tập “ Văn Thơ Lý Trần “ các nhà thơ và nhà nghiên cứu trong ngoài nước đáng giá rất cao những trước tác mà thiền sư để lại .

Có một bài thơ rất độc đáo được Không Lộ viết thể thuận nghịch ( đọc xuôi đọc ngược ) đây là thể viết rất khó cần sử dụng nghệ thuật từ ngữ uyển chuyển nhưng vẫn phải đúng niêm luật . Bài thơ này được Tiến sỹ Đặng Xuân Bảng ( 1828-1910 ) người làng Hành Thiện dịch sang tiếng Việt từ nguyên văn chữ Hán .

天 連 碧 𣗳 𣗳 連 天

煙 銷 青 山 山 鎖 煙

𣗳 繞 松 蘿 蘿 繞 𣗳

川通 巫 峽 峽 通 川

酒 迷 醉 客 客 迷 酒

船 送 行 人 人送 船

會 得 知 音 音 得 會

傳 今 到 古 古 今 傳。

Thiên liên bích thụ , thụ liên thiên

Yên toả thanh sơn , sơn toả yên

Thụ nhiễu tùng la , la nhiễu thụ

Xuyên thông vu giáp , giáp thông xuyên

Tửu mê tuý khách , khách mê tửu

Thuyền tống hành nhân , nhân tống thuyền

Hội đắc tri âm , âm đắc hội

Truyền kim đáo cổ , cổ kim truyền .

Dịch thơ :

Da trời dòng biếc nhuôm màu cây

Một giải non xanh toả khói mây

Cây quấn cây tùng , cây rậm rạp

Nước quanh đỉnh giáp , nước vơi đầy

Rượu mê người , người mê rượu đấy

Khách giục thuyền , thuyền giục khách đây

Liệu được tri âm , nào được mấy

Xưa nay vẫn nhớ mãi xưa nay .

Tương truyền bài thơ này được Thiền sư Không Lộ viết khi gặp Giác Hải . Hai người bạn đồng tu như có duyên từ trước hội ngộ lần đầu mà như tri âm như biết trước từ xa xưa .

Nguồn ảnh : EFEO , Nguyễn Phú Đức , Nguyễn Thuyên , Trần Trung Hiếu .

Nguồn bài: Nguyễn Thuyên / Ban Thông tin truyền thông Tổ Đình Chùa Keo Thái Bình

Đỗ Đức Chung
Đỗ Đức Chung
Admin Cộng đồng Nam Định Đất và Người Sinh năm: 1982 Nơi sinh: Nam Định
RELATED ARTICLES
- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments